October 8, 2010

Phóng sự Hội Thảo Bán Niên Quốc Tế về Thiền tại Somaiya




Vào thượng tuần tháng 9 DL, sau khi những cơn mưa xối xả, trắng trời Mumbai đã đi qua, nhường lại cho cho sự bừng dậy của vạn vật, cây cối trong cái nắng mới của tiết trời chớm thu, cũng là lúc thích hợp để các nhà nghiên cứu, hành giả Phật giáo khắp nơi trên thế giới đổ về “Thủ đô thương mại” của Ấn Độ để tham dự hội thảo.
Hội thảo Bán Niên Quốc Tế lần thứ 6 về chủ đề “Thiền Phật giáo:kinh văn, truyền thống và thực tập” đã được đăng cai tổ chức bởi Hội đồng điều hành Viện nghiên cứu Phật học Somaiya, thuộc ĐH Mumbai. Các đơn vị liên kết đồng tổ chức gồm: Uỷ ban giao lưu văn hoá Ấn độ (ICCR, thuộc chính phủ Ấn độ), Tân Đại học Nalanda, Đại học Phật giáo Việt Nam, khoa Triết và Pali (ĐH Mumbai).
Hội thảo 3 ngày (từ ngày 3 đến ngày 5/9) đã long trọng chính thức khai mạc vào lúc 9:30 ngày 3/9/2010 tại Viện Nghiên Cứu Phật học Somaiya, khuôn viên Somaiya Campus của ĐH Mumbai với sự tham dự của hàng trăm Tăng Ni, giáo sư, học giả, nghiên cứu sinh, sinh viên, và nhân sĩ  trí thức tại Ấn Độ và khắp nơi trên thế giới.
Chủ tọa đoàn và Thượng khách 

Đoàn Việt Nam do gồm 5 đại biểu do Đại đức Tiến sĩ Thích Nhật Từ hướng dẫn, HT Thích Gíac Toàn làm trưởng đoàn.
Buổi khai mạc đã được mở đầu bởi nghi thức tụng kinh cầu nguyện bằng tiếng Pali và Sankrit.Tiếp theo là nghi thức Thắp Nến và lời chào mừng các vị đại biểu và toàn thể hội chúng của ban tổ chức. Buổi lễ được tiếp nối bằng lời phát biểu khai mạc của các vị thượng khách và ban tổ chức. Lễ khai mạc đặc biệt ấn tượng bởi sự hiện diện và phát biểu của thống đốc bang Bihar, ông H.E.D. Konwar. Ngoài việc khen ngợi, chúc mừng và cầu chúc cho Hội thảo thành công tốt đẹp, ông còn nhấn mạnh về bang sở tại của minh: “Bihar là bang nghèo nhất của Ấn độ, nhưng là bang đóng góp nhiều nhất về tâm linh cho Ấn độ và cả thế giới bởi sự xuất hiện và truyền bá Chánh Pháp của đức Phật Tổ Gotama”.

Thắp Nến cầu nguyện



Thống đốc bang Bihar H.E.D Konwar phát biểu

Buổi chiều, Hội thảo đã tiến hành bằng session thứ nhất, Ấn Độ. Tiếp theo là session Sri lanka và Thái Lan. Buổi tối, lúc 6:30 p.m-7:30 p.m, màn trình diễn văn hoá Ấn Độ,  do Ban Văn Hoá thuộc chính phủ Maharastra đảm trách, diễn ra thật hoành tráng và mang đậm bản sắc.
Ngày thứ 2, hội thảo tiến hành bằng các Session: Cam-pu-chia và Lào, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc.
Ngày cuối cùng ( 5/9) của hội thảo đã mở đầu bằng việc tập trung thảo luận đề tài “Thiền Đại thừa với tiêu điểm Đạo Nguyên (Dogen)”, tiếp theo là các session Tây Tạng, Việt Nam, Miến Điện.
Đoàn Việt Nam đã đóng góp 5 bài tham luận tập trung về lợi ích của thiền đối với cuộc sống hiện tại. Không có bài tham luận về 2 dòng thiền lớn, tiêu biểu và đang thịnh hành tại Việt Nam và trên thế giới. Đó là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử do Trần Nhân Tôngg (1279-1293) thành lập bằng việc thống nhất 3  thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường; và dòng thiền Làng Mai do Thiền sư Nhất Hạnh lãnh đạo, vốn được tiếp lửa từ tổ Khương Tăng Hội (mẹ Ngài người Việt, sống vào khoảng thế kỷ thứ 3 sau CN). Hai dòng thiền này mang đậm bản sắc dân tộc Việt.
Hội thảo đã kết thúc cùng ngày và sau đó đã khởi hành đi tham quan 4 hang động Phật giáo tại Pune: Bhedsa, Karla, Bahaje, Kondane và thực tập thiền.
Điểm nổi bật của Hội thảo
- Hội thảo đã thu hút sự tham dự của hàng trăm giáo sư hàng đầu tai Ấn độ và thế giới. Nhiều giáo sư, học giả nổi tiếng tuy không có bài tham luận nhưng đã đến để chủ toạ, điều hợp, yểm trợ các buổi hội thảo.
- Dù ít hay nhiều, các truyền thống thiền Phật giáo, và phương pháp thực hành đã được trình bày.
- Thiền Vipassana được thảo luận nhiều hơn thiền Đại thừa. Điều này phản ánh thực tế sự kế tục và sức phổ biến của các hệ thống thiền trong xã hội hiện tại.
- Việc tổ chức đã thành công mỹ mãn như mong đợi từ khâu tiếp tân đến âm thanh, ánh sáng, chất lượng, v.v.
Hội thảo kết thúc trong không khí thiền vị, mang tính nhất trí và học thuật, như lời phát biểu cùa Viện trưởng K. Sankarnayan: “một người không thể tạo nên học thuật, nghiên cứu. Bằng cách đóng góp, liên kết, giao lưu chúng ta sẽ tạo nên môi trường học thuật, nghiên cứu thành công như hội thảo lần này.”
Riêng tôi, vừa hoan hỷ vì sự thành công tốt đẹp của hội thảo, lại vừa trăn trở vì những dòng thiền lớn tại Trung Quốc không được nhắc đến, đặc biệt là Tổ Bodhidharma (Bồ-đề-đạt-ma). Phật giáo đại thừa xuất phát từ Ấn độ nhưng phát triển rực rỡ trên mảnh đất Trung Hoa, với sự ra đời của Thập đại tông phái. Trong đó, thiền buổi đầu đã được dần dần mang vào bởi các đoàn truyền giáo nhưng thực sự định hình và nổi bậc bởi sự xuất hiện của Tổ Bodhidharma đầu thế kỷ thứ 6. Đến thời Đường, với sự xuất hiện của Lục tổ Huệ Năng và sau đó là sự ra đời của Ngũ Gia Thiền Phái, đã ngự trị đời sống tâm linh của người Trung thổ. Tiếc thay, Phật giáo đã suy vi vào cuối đời Thanh, và mặc dù có cuộc chấn hưng vào các thập niên đầu của thế kỷ 20, nhưng vì ngoại duyên tác động và sự khan hiếm anh hào Phật giáo nên không phục hồi nổi và các Thiền phái cũng chịu chung số phận. Chính vì Tổ sư thiền suy tàn ngay trên mảnh đất của nó nên các nước trong hệ truyền thừa cũng không vực dậy nổi, do vậy việc tiếp nối của tông phái này thật khiêm tốn. Đó cũng là lý do thiền Bodhidharma với chủ trương siêu phóng “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyên, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” hầu như không được nhắc đến trong hội thảo lần này. Tiếc thay!

Minh Toàn thực hiện



Nghiên cứu sinh ĐH Mumbai tham dự


Toàn thể Đại biểu

HT Gíac Toàn tặng quà cho Thống đốc bang Bihar

GS P.L Dhar chủ tọa

Ven Che Kinda thảo luận

GS. Somparn Promta hùng biện

GS. Anita Sharma, GS Akira Saito và học giả thông bác mọi truyền thống PG, GS. Charles Willemen chủ tọa

giờ ăn trưa

PGS A.K. Rana tại Hội thảo

GS. Kiyozumi Ishii, Hiệu trưởng ĐH Komazawa-Nhật chủ tọa

Tác giả khơi gợi tổ Bodhidharma tại Hội thảo

Dr. Ravindra Panth, Hiệu trưởng ĐH Tân Nalanda thảo luận

Đoàn ĐH  PGVN tại Hội thảo

PGS, hiện giảng dạy tại khoa Châu Á và Tỷ giảo Tôn giáo, Luther College, Mỹ thảo luận

Most Ven. Ashin Nanissara, Viện trưởng Học viện Phật giáo quốc tế Sitagu, Myamar và  GS. Niên trưởng M.V. Talim ra măt sách mới "Philisophy of Aesthetics"

Trình diễn văn hóa

Viện trưởng GS.  K.Sankarnarayan tổng kết và cảm tạ

Bế mạc, chụp hình lưu niệm

-->Đọc thêm...

October 6, 2010

Bài học Nghìn Năm Thăng Long từ tinh thần Phật giáo-Kỳ II

Hoàng Thành Thăng Long


4.                      Tinh thần Vô Trụ.
Vô Trụ nghĩa là không trụ chấp vào các pháp hữu vi. Đó là tinh thần “xuất trần thượng sĩ”, là triết học hành động của các Thiền sư: làm thì làm nhưng không mắc kẹt vào công việc, không nương tựa vào pháp hữu vi. Vô Trụ còn là tiêu biểu cho thái độ không màng quyền lực, danh vọng, phú quý của các vị vua thời Lý-Trần.
Dưới triều vua Lê Đại Hành, Thiền sư Vạn Hạnh đã đóng một vai trò quan trọng cố vấn cho vua việc đại sự quốc gia. Khi quân Tống sang xâm lăng nước ta năm 980, Vua Lê Đại Hành hỏi Thiền sư nếu đánh thì thắng hay bại, Thiền sư trả lời là nội trong ba, bảy ngày thì giặc phải thua chạy. Rồi năm 982, khi quân Chiêm Thành bắt hai sứ giả của ta, Thiền sư đã khuyên Vua cấp tốc xuất quân Nam chinh thì sẽ đại thắng. Quả nhiên, đối với hai vấn đề trọng đại sinh tử nầy là đương đầu với đế quốc phương Bắc và đánh dẹp phương Nam vào thời ấy đều đúng như lời Thiền sư tiên đoán.
Thiền sư Vạn Hạnh chính là linh hồn của cuộc cách mạng bất bạo động năm 1009. Ngài đã âm thầm, kiên trì chuẩn bị cuộc cách mạng này từ lâu, từ lúc thấy Lê Long Đĩnh bạo tàn, hoang dâm vô độ và từ lúc phát hiện Lý Công Uẩn sẽ là bậc minh quân nên đã ra sức giáo dưỡng, un đúc, rồi vận động và thực hiện kế hoạch siêu việt. Khi thời cơ chín mùi, Ngài đã liên kết cùng Đào Cam Mộc, đưa Lý Công Uẩn lên ngôi. Ngày Lý Công Uẩn lên ngôi thì Thiền sư đang uống trà ở chùa Lục Tổ một cách thong dong. Việc “Thiền sư đã làm là  vì dân tộc, vì muốn chuyển hóa xã  hội bạo trị thành một xã hội đức  trị, biến một quốc gia Việt Nam mong manh,  suy vi thành một quốc gia Việt Nam hùng cường,  hưng thịnh. Thiền sư đã ra tay hành  động, vừa là để tránh cho dân  tộc khỏi rơi vào vực thẳm, khỏi  trầm luân trong đầm lầy và vừa  để xây dựng trên đống tro tàn,  gạch vụn đổ nát của thời Bắc Thuộc và thời chiến tranh, loạn lạc,  độc tài, bạo trị, một lâu đài  Việt Nam nguy nga, tráng lệ, một sự nghiệp  Việt Nam trường tồn bất tử ngàn  năm.” (Lý Khôi Việt, Thiền sư Vạnh Vạnh và sự nghiệp Việt Nam).
Tượng  Thiền Sư Vạn Hạnh

Ngoài cuộc cách mạng năm 1009, Thiền sư Vạn Hạnh còn là người đóng vai trò quan trọng trong việc dời đô từ Hoa Lư, kiến thiết thành Thăng Long…Tất cả những việc này Thiền sư đều làm với tâm vô kỷ, vô công, vô danh, vô hành. Sau này mỗi khi có việc trọng đại, vua mời Thiền sư vào cung cố vấn. Xong việc, Thiền sư lại rút lui về chùa.
Các vị Thiền sư Pháp Thuận, Khuông Việt, Vạn Hạnh, Huệ Sinh, Viên Chiếu, Mãn Giác, Chân Không, Giác Hải và Không Lộ… đều giữ thái độ xuất thế, không mảy may dính vào mùi danh, bả lợi. Các Ngài mang hạnh nguyện độ sanh đến cho đời, làm tất cả vì cuộc đời, rồi xuất thế một cách thong dong như cánh nhạn bay qua nền trời, không để dấu lại mặt hồ và mặt hồ cũng không lưu dấu được bóng nhạn, tất cả đều thanh thoát, tự tại, siêu việt:
Nhạn quá Trường không
Ảnh trầm hàn thuỷ
Nhạn vô di tích chi ý
Thuỷ vô lưu ảnh chi tâm
(Hương Hải Thiền sư)
Ảnh hưởng từ phong thái tự tại của các Thiền sư cũng như thấm nhuần từ giáo lý đạo Thiền, các vị vua thời Lý-Trần đã thể hiện nếp sống “cư trần bất nhiễm trần”. Dù sống trong cung điện xa hoa phú quý nhưng các vị không hề đắm nhiễm. Các vị vua đời Lý đều thực tập đạo Thiền và thường xuyên mời các vị Thiền sư vào cung giảng đạo.
Có những vị tuy sống giữa nhung lụa nhưng vẫn có phong thái của Thiền sư. Sử chép, vua Trần Thái Tông thắp đèn thâu đêm để đọc sách đạo Thiền; vua còn chế tác “Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi” để ngày đêm sáu thời lễ lạy. Lúc còn nhỏ, vua đã trốn vào núi để xuất gia, nhưng sau do sự khuyên can của Thiền sư Viên Chứng và quần thần nên đành miễn cưỡng trở lại ngai vàng. Dù ở chốn cung đình nhưng vua vẫn giữ phong thái thoát tục như các vị Thiền sư ẩn tu ở chốn sơn lâm:
 Mình ngồi thành thị
   Nếp dụng sơn lâm” (Cư trần lạc đạo phú-hội thứ hai)
Sau khi lãnh đạo chống quân Nguyên-Mông lần thứ nhất thành công và đóng góp to lớn cho triều chính, vua truyền ngôi lại cho con là Trần Thánh Tông (1258-1278), rồi ngày đêm chăm lo đạo Thiền, viết Thiền Tông Chỉ Nam để truyền những sở đắc cho hậu thế.
Vua Trần Nhân Tông (1279-1293), sau khi cùng quân dân đánh tan cuộc xâm lược lần thứ hai và ba, góp phần giữ vững triều cương và đất nước, cũng đã truyền ngôi cho con, vào chốn thâm sơn Yên Tử để vui thú đạo mầu và lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Có thể nói các vị vua Lý-Trần coi quyền lực, phú quý như áng mây bay, buông bỏ chúng như “đôi giày rách”. Các vị chỉ làm vua như một trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Xong việc, thì thong dong, tự tại, siêu việt mọi danh lợi thường tình.
5.                      Tinh thần Bất Nhị
Tinh thần Bất Nhị là giáo lý siêu việt của nhà Phật. Nó đặt cơ sở trên cái nhìn vô phân biệt về cuộc đời, thành-hoại, sanh-tử, phàm-thánh không một, cũng không khác. Đó là sự quán chiếu cuộc đời “sắc tức là không, không tức là sắc”.
Tinh thần Bất Nhị được ứng dụng mạnh vào thời Trần chính là nhờ những tư tưởng chủ đạo thời bấy giờ làm cơ sở. Đó là tư tưởng “Phật tại tâm”, “biện tâm” và “cư trần lạc đạo”.
Quốc sư Viên Chứng thức tỉnh vua Trần Thái Tông rằng: “Trong núi vốn không có Phật. Phật chỉ có ở trong tâm. Tâm lặng mà biết thì đó đích thị là Phật”.  Thái Tông nhấn mạnh tư tưởng “Biện tâm”, nghĩa là không kể là sống ẩn trên núi hay là giữa thị thành, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biện tâm, vốn không có phân biệt nam nữ, sao lại còn chấp tướng: “mặc vấn đại ẩn, tiểu ẩn, hữu biệt tại gia xuất gia, bất câu tăng tục, chỉ yếu biện tâm, bổn vô nam nữ hà tu trước tướng?” Trần Nhân Tông cũng chỉ ra Bụt chính là ở cõi lòng:
Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa
Nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt
Đến cốc hay Bụt chỉn là ta
”.
Và vì vậy thôi nhọc công đi đìm, hãy sống tuỳ duyên, an lạc:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
 Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền
”.
                                                  (Cư trần lạc đạo phú)

Tuệ Trung Thượng Sỹ một Thiền sư có tư tưởng siêu phóng đời Trần, một Bồ tát tại gia và là thầy dạy của Trần Nhân Tông cũng nói tư tưởng này trong các bài ”phàm thánh bất dị” và ”mê ngộ bất dị”:
Mày ngang mũi dọc cũng như nhau
Phật với chúng sinh không khác mặt
”.                     
Mỗi người là một vị Phật sống: “hoạt Phật”. Vì vậy, mỗi người không kể là tăng hay tục, là nam hay nữ đều phải lo “biện tâm”, tức gột rửa, cứu xét, tu tập tâm tính, cố gắng phấn đấu để xứng đáng với danh hiệu đó. Chính tư tưởng chúng ta cùng chư Phật, không một, cũng không khác như thế đã tạo nên thái độ tích cực cho mỗi người tự nỗ lực, phấn đấu, tu tập để hiển lộ ông Phật ngay trong chính mình. Và do vậy, nó tạo nên hệ quả tốt đẹp là ai cũng sống an lạc, tự tại, xa lìa mọi phiền não, khổ đau cuộc đời.
Mặt khác, tinh thần Bất Nhị cũng tạo nên hệ quả dấn thân, nhập thế tích cực của Phật giáo. Vì sống với tinh thần Bất Nhị của đạo Thiền nên không còn chấp vào hình thức xuất hay nhập, hữu vi hay vô vi, tăng hay tục mà cốt ở tinh thần thực hiện. Vì thấm nhuần tư tưởng này nên vua Trần Thái Tông đã ở lại ngôi để lo cho dân, cho nước mà vẫn giữ phong thái tự tại; rồi một Tuệ Trung sống giữa gia đình mà trí tuệ siêu phóng, tinh thần ung dung; và, toàn dân thực tập tinh thần Phật giáo, ra sức cống hiến cho quốc gia, tạo nên sức mạnh tổng hợp thần kỳ, đánh tan 3 cuộc xâm lược của quân Nguyên-Mông hung hãn.
Tóm Lại, lịch sử 1000 năm Thăng Long không chỉ nổi bật bởi những kỳ tích oai hùng bình Tống, thắng Nguyên, dẹp Minh, đuổi Thanh, xua Pháp, gắn liền những chiến công hiển hách: Bạch Đằng, Đông Bộ Đầu, Chương Dương Độ, Hàm Tử Quan, Chi Lăng, Ngọc Hồi, Điện Biên Phủ mà nó còn thể hiện giá trị truyền thống, văn hiến tốt đẹp được thể hiện rõ nét trong thời Lý-Trần.
Bằng đường lối dung hợp giá trị tinh thần cao quý của Phật giáo với văn hoá bản sắc dân tộc, các vị vua đã tạo nên nét đặc thù cho văn hiến và lịch sử Việt Nam. Tinh thần từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, vô trụ, bất nhị…đã không làm cho dân tộc yếu mềm mà trái lại tạo nên sức mạnh nội tại đánh tan những thế lực bành trướng, xây dựng một quốc gia thuần từ, an lạc, minh triết. Một quốc gia mà có những ông vua thực hiện đời sống thanh cao, có tấm lòng thương dân như con đẻ, biết trọng dụng người hiền tài, đức độ, biết xây dựng xã hội trên tinh thần Ngũ Giới thì xã hội được an bình, quốc gia được phú cường, thịnh trị là một hệ quả tất yếu:
Vận nước như dây quấn
Trời Nam ôm thái bình
Ðạo đức ngự cung điện
Muôn xứ hết đao binh.
(Thiền sư Pháp Thuận)
Xã hội hiện tại với trình độ văn minh khoa học phát triển như vũ bão, nhưng không làm cho đạo đức con người đi lên mà còn xuống cấp trầm trọng. Sự khủng hoảng đạo đức và những thách thức xã hội đang đặt ra cho con người nhu cầu cần một chỗ dựa căn bản đạo đức, một phương thức sống ý nghĩa dựa trên nền tảng giá trị tâm linh tốt đẹp. Vì vậy, việc quay lại “ôn cố” những bài học lịch sử tốt đẹp, những gia tài tâm linh của Tổ tiên để trân quý, giữ gìn, phát huy,  để “tri tân” tức vận dụng trong cuộc sống hiện tại, xem ra, là một trong những giải pháp vậy.
Rồng thời Lý

Thư mục tham khảo
Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Thái Tông, Nxb Tp.HCM, 2004.
Lý Khôi Việt, Thiền sư Vạn Hạnh và sự nghiệp Việt Nam, saigontimesusa.com.
Nguyễn Lang-Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2000.
Nguyễn Lang, Tổng quan về Phật giáo đời nhà Lý, phusa.info.
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KHXH, Hà Nội, 1985.
Viện văn học, Thơ văn Lý-Trần, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989.
Thích Chúc Minh, Tư tưởng Phật tại tâm của vua Trần Thái Tông (luận văn).












-->Đọc thêm...

Bài học Nghìn Năm Thăng Long từ tinh thần Phật giáo-Kỳ I

Trống đồng Đông Sơn và rồng thời Lý-một trong những biểu tượng của Văn hóa Việt Nam

Việt Nam đang tưng bừng, nhộn nhịp đón chào Đại lễ Nghìn Năm Thăng Long. Đây là việc làm đáng mừng vì con cháu nước Việt đã tổ chức đại lễ đễ tôn vinh và nhớ ơn những bậc Khai quốc công thần,  Tổ tiên đã khai sinh, gầy dựng và giữ gìn văn hóa, non sông gấm vóc của dân tộc Việt trong suốt hàng nghìn năm lịch sử. Tuy nhiên việc tổ chức đã thiên nhiều về hình thức hơn là nội dung. Trong khi sức âm ba lan toả của hào khí dân tộc lại nằm ở nội dung truyền thống tốt đẹp, vốn tạo ra một nền văn hiến cho dân tộc từ sự ảnh hưởng và tiếp biến những giá trị tinh thần cao quý của Phật giáo. Vì vậy, một trong những  việc quan trọng tổ chức Đại lễ Nghìn Năm Thăng Long là phải ôn lại những trang sử vẻ vang, những truyền thống huy hoàng để rút ra những bài học giá trị hầu tạo hành trang tâm linh cho một dân tộc.
Nhìn lại nghìn năm lịch sử, và suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, triều đại Lý -Trần đã nổi lên như hai điểm son chói lọi trên bề mặt lịch sử cả phương diện vật chất lẫn tinh thần. Phật giáo trong hai triều đại này đạt đến thời hoàng kim. Phật giáo đã song hành cùng dân tộc và có những cống hiến, đóng góp vĩ đại từ đời sống tâm linh đến chính trị, văn hoá, văn học, nghệ thuật…khiến Phật giáo và dân tộc trở thành hai thực thể không thể tách rời. Vì vậy, bài học từ Nghìn Năm Thăng Long chủ yếu là những bài học trong hai triều đại Lý (1010 – 1225) ,Trần ( 1226 – 1400) mang giá trị tâm linh Phật giáo.
1.                      Đức trị - tinh thần yêu nước thương dân
Sử gia Hoàng Xuân Hãn viết trong sách Lý Thường Kiệt: “Ðời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Ðó chính là ảnh hưởng của đạo Phật”. Thật vậy, các ông vua thời Lý -Trần đều là những Phật tử thuần thành. Thấm nhuần từ tinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha của Phật giáo, các vị vua đã biến những giá trị tâm linh ấy thành đường lối trị quốc, khiến quốc gia được an bình, thịnh trị. 
Các ông vua thời lý -Trần dùng chính sách trị dân có tính khoan hồng kết hợp pháp trị với đức trị. Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, là một Phật tử thuần thành vốn được giáo dưỡng  và cố vấn bởi Thiền sư Vạn Hạnh, ông liền ra lệnh hủy bỏ mọi hình cụ trong ngục và xây dựng nhiều chùa chiền trong nước.
Các vua đều có tấm lòng thương dân như con. Lý Thánh Tông (1054-1072), vị vua thứ 3 của triều Lý, là một ông vua nhân từ, độ lượng. Năm 1065, trong một phiên xử kiện ở điện Thiên Khánh, vua Lý Thánh Tông đã chỉ vào công chúa Ðộng Thiên đứng hầu bên cạnh mà bảo ngục lại rằng: “Lòng ta yêu con ta, cũng như lòng cha mẹ dân yêu dân, dân không biết mà mắc vào hình pháp, ta rất lấy làm thương. Từ nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ, đều nhất luật khoan giảm” (Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư).
Cũng nhà vua này, vào mùa đông năm Ất mùi 1055, trời giá rét, đã bảo với các quan: “Trẫm ở trong cung nào lò sưởi ngự, nào áo lót cầu mà còn rét như thế này, nghĩ đến người tù giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa biết rõ ngay gian mà ăn không được no bụng, áo không kín mình, gió rét khổ thân, hoặc có kẻ chết không nơi nương tựa, trẫm rất thương xót. Vậy hạ lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu và mỗi ngày cho ăn hai bữa cơm” (Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư).
Các đợt ân xá tù nhân, đại xá thiên hạ, giảm thuế, miễn thuế luôn được tổ chức mỗi khi có sự kiện quan trọng như vua lên ngôi, lễ thụ phong Quốc Sư, cầu mưa, hay đất nước gặp thiên tai, hạn hán… Sử chép các đợt đại xá tù nhân, miễn tô thuế, mở quốc khố để phát thóc cho dân nghèo, những người mồ côi, già yếu, goá bụa luôn được thực thi dưới thời Lý vào các năm: 1010, 1016, 1028, 1036, 1064, 1070, 1076, 1095, 1103, 1134, 1136.
Thái hậu Ỷ Lan, vợ vua Lý Nhân Tông (1066-1127), xuất thân là một cô gái quê nên biết rõ những khổ đau của nông dân. Bà đã khuyên vua Nhân Tông nên phạt nặng những kẻ trộm trâu và giết trâu gây nên tình trạng không có trâu cày. Năm 1013, thái hậu lấy của kho chuộc những người đàn bà con gái vì nghèo phải đem thân đi ở thế nợ, không thể đi lấy chồng.
Đường lối đức trị, chăm lo đến dời sống toàn dân còn thể hiện qua sự giáo dục đạo đức cho người dân. Năm Giáp Thìn (1304), thái thượng hoàng Trần Nhân Tông (1279-1293), bâý giờ là Tổ Trúc Lâm, đã đi khắp nhân gian khuyên dân chúng xoá bỏ dâm từ (những đền thờ thực khí trong tín ngưỡng phồn thực), giữ Ngũ Giới, tu Thập Thiện. Đây là việc làm mang tinh thần nhập thế tích cực của Phật giáo. Vì muốn một đất nước xã hội an bình, thịnh trị, trước hết phải xây dựng đạo đức cho mỗi gia đình, mỗi cá nhân trong xã hội. Năm giới chính là nền tảng đạo đức của xã hội. Để bảo vệ mạng sống của con người, động vật, Ngài khuyên không sát sanh, hại vật; để bảo vệ bảo vệ tài sản của người, khuyên giữ giới không trộm cướp, bảo vệ hạnh phúc gia đình, khuyên giữ giới không tà dâm, bảo vệ uy tín và giá trị con người, khuyên giữ giới không nói dối, bảo vệ sức khỏe, trí tuệ và trật tự xã hội, khuyên giữ giới không uống rượu. Người dân trong nước đều giữ được Năm giới thì đất nước thật sự thái bình, dân chúng vui vẻ hát ca, không còn phải lo âu, sợ sệt. Tiến xa hơn nữa, đức vua còn vua khuyên tu Thập Thiện, tức là thân không sát sanh, trộm cướp, tà dâm, miệng không nói dối, nói hai lưỡi, nói hung dữ, nói thêu dệt, ý bớt nóng giận, tham lam và si mê.
2.                      Nghệ thuật lãnh đạo
Thế Tôn dạy về 7 điều thường làm của một xã hội hưng thịnh:

- Thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.
- Thường hay tụ họp trong niệm đoàn kết, làm việc trong niệm đoàn kết và giải tán trong niệm đoàn kết.
- Không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành.
- Tôn kính đảnh lễ các bậc trưởng lão, biết nghe theo lời dạy của những vị này.
- Không bắt cóc và cưỡng ép các phụ nữ và thiếu nữ.
- Tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu, không bỏ phế các cúng lễ từ trước đúng với qui pháp.
- Bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A la hán... (Tăng chi II).
Cấp lãnh đạo cần thực hiện 10 điểm gọi là Thập Vương Tử Pháp, đại để:

- Sống liêm khiết
- Lời nói nhu hòa
- Hy sinh vì quyền lợi của nhân dân
- Lắng nghe tiếng nói của nhân đân
- Nhẫn nhục, không được trả thù
- Phục vụ hòa bình, không chủ chiến
- Làm theo ý dân.
-... (Theo sớ giải Pháp Cú kinh)
Những lời dạy này đã được các Thiền sư vận dụng thành nghệ thuật lãnh đạo để giáo huấn, cố vấn cho vua, triều thần. Vua Lý Công Uẩn được Thiền sư Vạn Hạnh đào tạo tại chùa Lục Tổ; Trí Thiền sư ở núi Cao Dã đã giáo dục nên Tô Hiến Thành và Ngô Hoà Nghĩa. Các Thiền sư thông bác cả tam giáo và họ đã kết hợp những tinh hoa  về khoa học chính trị và xã hội của Nho giáo, rồi dựa trên tinh thần Phật giáo, họ đem những tinh hoa đó truyền thụ cho các vua. Các Thiền sư trong số đó được kể đến là: Khuông Việt, Vạn Hạnh, Từ Ðạo Hạnh, Viên Thông, Nguyễn Thường, Mãn Giác, Bảo Giám, v.v.
Sử chép: Lý Cao Tông (1175-1210) bị tăng phó Nguyễn Thường khuyên can chớ nên hát xướng chơi bời xa hoa quá độ. Ông nói; “Tôi nghe bài tựa Kinh Thi nói: âm nhạc làm loạn nước thì nghe như oán như giận. Nay dân loạn, nước khốn, chúa thượng thì rong chơi vô độ. Triều chính rối loạn, dân tâm ly tan, đó là triệu chứng mất nước.” Thiền sư Viên Thông trước đó cũng đã ân cần nói với vua Thần Tông (1116-1138) về lẽ trị loạn: “Thiên hạ cũng như bất cứ cái gì, hễ đặt nó vào chỗ an, thì an, đặt vào chỗ nguy thì nguy: điều này trông vào hành động của bậc nhân chủ (vua). Nếu đức tôn trọng sự sống của vua mà hợp với lòng dân khiến cho dân yêu mến vua như cha mẹ, ngưỡng mộ lên vua như mặt trời mặt trăng, như thế là đặt thiên hạ vào đúng chỗ an đó. Trị và loạn cũng do ở sự dùng người; nếu có người tốt giúp rập thì trị, mà không có thì loạn. Tôi thấy các bậc đế vương đời trước không ai không vì dùng bậc quân tử mà hưng, không ai không vì dùng tiểu nhân mà vong. Tình trạng không phải chuyện một sáng một chiều mà từ từ xảy ra vậy. Trời đất không thể từ lạnh đổi sang nóng ngay tức khắc, mà phải đi dần từ xuân sang thu, bậc vua chúa không hưng hay vong đột ngột mà hưng vong từ từ tùy theo tính cách thiện hay ác của họ. Bậc thánh vương đời xưa biết thế nên mới bắt chước đức của trời mà tu thân không ngừng, noi theo phép của đất mà an dân không nghỉ. Tu thân là thận trọng ở bề trong, run sợ như dẫm trên băng mỏng. An dân là kính trọng kẻ dưới, hãi hùng như cưỡi ngựa nắm dây cương mục. Theo đó thì hưng mà không theo thì vong. Sự hưng vong chỉ từ từ mà xảy đến.” (Nguyễn Lang, Tổng Quan về Phật Giáo đời nhà Lý).
Đặc biệt, quốc Sư Phù Vân đã khuyên vua Trần Thái Tông (1225-1258) về đường lối trị quốc như sau: “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng cua mình.” Vua Trần Thái Tông sau đó đã lấy quyền lợi của dân tộc thành quyền lợi của mình, thống nhất quyền lợi của mình với quyền lợi dân tộc. Nhà vua đặt quyền lợi, sự suy tinh cá nhân ngoài sự xem xét, thủ tiêu những ý muốn cá nhân, để hướng đến quyền lợi chung là quyền lợi dân tộc mà lúc này là nhu cầu cấp bách bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập tổ quốc trước nguy cơ xâm lược của giặc Mông- Nguyên.
Vua Trần Thái Tông, sau đó đã cho thi hành 3 chính sách lớn:
Chính sách lớn thứ nhứt: Là chính sách kiện toàn bộ máy nhà nước nhằm làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Thực hiện chính sách này, vua Trần Thái Tông tiếp tục kế thừa và phát huy sách lược dân sự hoá và trí thức hoá bộ máy nhà nước, mà từ thời vua Lý Thánh Tông đã được đưa vào, thông qua một số biện pháp. Biện pháp một là mở một loạt các khoa thi vào những năm 1227, 1232, 1236, 1239, 1247, 1256. Với mục đích đào tạo nhân tài để tuyển chọn những người tài giởi có tấm lòng yêu nước, yêu dân như con mình để ra phục vụ cho guồng máy hành chánh, cũng như để phục vụ cho đất nước thời bây giờ, rất cần những anh tài xuất chúng, nhằm ổn định lại đội ngũ trí thức trong triều, thiết lập lại trật tự triều đình, phân chia nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến với quân Mông cổ, mà được dự báo trước là rất khốc liệt và gian nan. Đồng thời, với việc mở khoa thi để trí thức hoá đội ngũ viên chức nhà nước cùng biện pháp thứ hai là ổn định đời sống nhân dân bằng luật pháp. Ngay khi mới lên cầm quyền, triều đình nhà Trần đã thấy được yêu cầu cần phải đưa hoạt động nhà nước đi vào quy củ bằng một hệ thống luật pháp. Vua Trần Thái Tông đã kế thừa công tác đưa hoạt động nhà nước theo hướng pháp trị bằng một loạt các sắc lệnh.

Chính sách lớn thứ hai: Là thúc đẩy nền kinh tế cơ bản của đất nước phát triển, mà vào thời ấy là nông nghiệp chủ yếu, bằng một loạt các công trình xây dựng với đỉnh cao là đắp đê Đỉnh Nhĩ. Đây là kế thừa và phát huy chính sách bảo vệ phương tiện sản xuất của thời Lý nhưng đẩy mạnh dưới thời Trần.
Chính sách lớn thứ ba: Là cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Đại Việt. Từ những năm đầu cầm quyền vua Trần Thái Tông đã quan tâm đến vấn đề biên giới phía Bắc và phía Nam của tổ quốc. Cùng với việc ổn định biên cương phía Bắc và Nam, vua Trần Thái Tông còn ráo riết tổ chức và tăng cường sức mạnh quân đội nhằm để chuẩn bị đối phó với tình hình chính trị quốc tế thời bây giờ diễn ra hết sức phức tạp vua Trần Thái Tông đã tiến hành một loạt các biện pháp quân sự nhằm không ngừng nâng cao khả năng chiến đấu chống quân Nguyên Mông.
Nghệ thuật lãnh đạo thời Lý cũng được thể hiện ở biện pháp rất dân chủ trong việc xử kiện, tránh những thủ tục quan liêu. Năm 1052,  vua Lý Thái Tông ra lệnh đúc chuông lớn ở Long Trì cho dân ai có oan ức gì không bày tỏ được thì giộng chuông để trực tiếp tâu lên vua hoặc đệ đơn kêu oan mà không phải đi qua trung gian nào.
Chùa Một Cột  (các tên khác: Nhất Trụ Tháp,Diên Hựu tự, Liên Hoa Đài, chùa Mật,)
xây năm 1049, đời vua  Lý Thái Tông

3.                      Tinh thần khoan hồng, độ lượng
Thấm nhuần từ tinh thần tử bi, hỷ xả, vị tha của đạo Phật, các vị vua thời Lý-Trần đã vận dụng những giá trị đạo đức đó vào đường lối chính trị, pháp trị kết hợp với đức trị, và hành xử hết sức độ lượng ngay cả với kẻ thù nghịch.
Năm 1028 vua Lý Thái Tông (1028-1054), tức Hoàng thái tử Phật Mã lên ngôi. Lúc bấy giờ, Khai Quốc Vương tức hoàng tử Bồ Trấn ở phủ Trường Yên làm phản. Vua đích thân đến Trường Yên đánh dẹp. Khai Quốc Vương đầu hàng. Vua tha tội cho Khai Quốc Vương và vẫn cho tước như cũ.
Năm 1064, mùa Hạ tháng Tư, vua Lý Thánh Tông ngự ở điện Thiên Khánh trong một vụ xử kiện. Vua chỉ vào công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh mà bảo ngục lại rằng: “Ta yêu con ta, cũng như lòng cha mẹ dân yêu dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, ta rất lấy làm thương xót. Từ này về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm.”  Theo sách Lịch triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, Ngô Thì Sỹ (1725-1780) đã bình luận về việc này như sau: “đọc việc này, ta thấy vua Thánh Tông rất chân thành. Tất cả sự khoan hồng trong sự áp dụng luật pháp và tấm tình thân mật giữa vua và dân không hề bị bệ ngọc xa cách”.
Nước ta ngày ấy giáp giới với Chiêm Thành. Người Chiêm thường hay quấy rối vùng đất biên thùy. Từ ngày vua Chiêm là Rudravarman II (tức Chế Củ) lên ngôi, người Chiêm đã quan hệ, giao tiếp với nhà Tống bên Tàu để mua lừa ngựa, tổ chức lại quân đội, chuẩn bị, lăm le đánh nước ta.  Năm 1069, vua Lý Thánh Tông, có Lý Thường Kiệt phụ tá, thân chinh đi đánh dẹp, phá được kinh thành Chiêm Vijaya (hay Đồ Bàn), bắt được vua Chiêm đem về kinh đô Thăng Long. Hình phạt thông thường đối với kẻ giặc như vậy là tử hình. Nhưng Lý Thánh Tông đã tha cho Chế Củ về nước. Và Chế Củ đã xin dâng ta ba châu là Bố Chánh, Ma Linh và Đại Lý (tương ứng địa phận Quảng Bình và bắc Quảng Trị ngày nay) để xin chuộc tội.
Sự kiện vua Lý Nhân Tông tha chết cho triều thần phản nghịch Lê Văn Thịnh càng nổi bật đức độ khoan dung của các ông vua thời đó. Theo Đại Việt Sứ Ký Toàn Thư, Lê Văn Thịnh đỗ thủ khoa năm 1075 và làm quan đến chức tể tướng. Lê Văn Thịnh có một người hầu cận biết làm phép thả hơi mù và biến thành hổ báo. Ông học được phép ấy và lập tâm giết vua để cướp ngôi. Năm 1087, vua Lý dạo chơi ở hồ Dâm Đàm (Hồ Tây bây giờ), xem đánh cá. Vua ngự trên một chiếc thuyền chài, có Mục Thận, người phường Tây Hồ, đứng hầu đằng mũi, buông lưới. Khi thuyền đến giữa hồ, thình lình trời mù tối, không nhìn rõ gì nữa. Bỗng, có một chiếc thuyền chèo vùn vụt tới, lướt qua thuyền vua. Trên thuyền, qua màn Sương mù, ai cũng trông thấy một con hổ lớn đương nhe răng gầm gừ. Vua cả sợ. Mục Thận trong cơn nguy cấp, sẵn lưới trong tay, tung ra, tưởng bắt được hổ, lúc xem lại, ai ngờ là Lê Văn Thịnh! Vua sai lấy dây sắt trói, giam vào cũi.
Theo luật pháp thời bấy giờ, tội mưu giết vua phạm vào tội “Thập Ác” và bị tru di tam tộc.  Song nghĩ tới công lao cũ, nên vua đã tha tội chết, chỉ đày Thịnh lên miền nước độc mà thôi. Thế mới biết sự khoan hồng, từ bi của các vua lớn chừng nào! Cho nên, “Có thể từ bi là một đường lối chính trị, nhưng chính trị từ bi là một nền chính trị nhân bản đáng được ủng hộ.” (Nguyễn Lang, Tổng Quan về Phật giáo nhà Lý).

Tháp Rùa - một ngọn tháp ở khoảng giữa, phía nam Hồ Gươm. Tháp xây trên gò Rùa, có 3 tầng. Tầng dưới vốn là đình Tả Vọng xây bởi Trịnh Giang (1711–1761) là chúa Trịnh thứ bẩy thế kỷ 18.

(đón đọc kỳ II)

-->Đọc thêm...

September 28, 2010

Hello everybody!

Welcome all to my new blog in order to get and share knowledge and information
-->Đọc thêm...