October 25, 2010

Lễ Hội Diwali


Nếu bạn thắc mắc là người Ấn có ăn Tết như ta không, Tết của họ diễn ra khi nào và như thế nào, thì câu trả lời là họ cũng có Tết như ta. Đó là lễ hội Diwali.
Diwali hay Deepawali (Sanskrit:Dīpāvali) nghĩa là “Lễ Hội Ánh Sáng” (Festival of Lights). Đó là Lễ hội quan trọng gồm 5 ngày của đạo Hindu, đạo Sikh và đạo Jain. Lễ hội diễn ra vào khoảng giữa tháng 10 đến giữa tháng 11. Khởi điểm là một Lễ hội của 3 tôn giáo, nhưng vì tín đồ của đạo Hindu chiếm đa số (80%) dân số[1] của Ấn Độ nên sức ảnh hưởng của Lễ hội lan rộng khắp dân tộc Ấn, trở thành Quốc Lễ của Ấn Độ, Nepal và là ngày Lễ chính thức của một số quốc gia có đông cộng đồng Ấn kiều như Guyana, Tridiad & Tobago, Mauritius, Malaysia, Singapore, Sri Lanka, Fiji và Surinam.
Trong truyền thống Hindu, Diwali đánh dấu sự kiện thần Lama (vốn là một vị vua, hoá thân của thần Vishnu) trở về vương quốc Ayodha[2] sau khi đánh bại bạo chúa Ravana, cai trị xứ Lanka, trong sử thi Rāmāyaṇa[3]. Với đạo Jain, Diwali là lễ tưởng niệm sự giác ngộ của giáo chủ Mahavira (Đại Hùng, vị Đạo Sư cùng thời với Đức Phật Thích Ca) năm 527 TCN. Diwali, theo đạo Sikh, là lễ kỷ niệm sự trở lại của Guru Har Gobind[4] sau khi giải phóng 52 vị vua Hindu bị cầm tù bởi hoàng đế Jahagir tại thành Gualior; và do vậy, Diwali cũng là ngày “Giải Phóng Tù Nhân”.



Ý nghĩa quan trọng của Diwali, theo triết lý Hindu, là ngoài thắp sáng đèn nến bên ngoài phải ý thức được “ánh sáng bên trong”. Diwali là Lễ hội đánh thức Tiểu ngã (Atman) vốn là bản tánh chân thật, trường tồn, bất biến, vô biên tế của mỗi cá nhân để chiếu sáng, xua tan chướng ngại, đẩy lùi ngu muội, hầu mang lại an vui, hòa bình và cuối cùng là mang Tiểu ngã (Atman) hoà đồng với Đại ngã (Brahman).



Theo lịch Hindu, Lễ hội gồm hơn 5 ngày với ý nghĩa mỗi ngày như sau:
1.      Ngày đầu tiên gọi là Vasu Baras (ngày 12 của nửa tháng còn lại của tháng Ashvin-tháng 7 lịch âm Hindu). Baras có nghĩa là thứ 12, Vasu có nghĩa là bò cái. Vào ngày này bò cái và con bê được tôn thờ.
2.      Ngày thứ hai gọi là Dhanatrayodashi (dhana: giàu có; tryodashi:thứ 13). Ngày này rơi vào ngày thứ 13 của nửa tháng còn lại của tháng 7 lịch Hindu. Đây là ngày sinh của thần Dhanvantri và cũng được xem là ngày may mắn để mua dụng cụ và vàng bạc.
3.      Ngày thứ ba có tên là Naraka Chaturdashi (Nakara: tên vị thần, Chaturdashi:thứ 14), là ngày kỷ niệm thần Krishna, một hoá thân của thần Vishnu, tiêu diệt ác thần Nakarasura.
4.      Ngày thứ tư, Lakshmi puja. Vào ngày ngày quan trọng này, người Hindu thờ cúng nữ thần Lakshmi, nữ thần thịnh vượng, và thần Ganesh, thần may mắn, rồi thắp đèn trong nhà và ngoài đường để nghinh đón sự thịnh vượng và hạnh phúc.
5.      Ngày thứ năm, Govardhan puja, là ngày tưởng niệm thần Krishna đánh bại thần Indra (thần chiến tranh, mưa, bão) và chuyển dời đồi Govarhan để cứu bà con của ông cùng súc vật từ mưa và lũ. Người đàn ông tặng quà cho vợ mình trong ngày này.
6.      Ngày thứ sáu, Bhaiguj, là ngày các anh chị em gặp nhau để bày tỏ tình thương yêu với nhau. Truyền thống này dựa vào câu chuyện thần chết, Yama, gặp em gái Yami. Yami đã thiết tiệc đãi anh mình bằng món Aarti. Khi chia tay, Yama đã tặng em mình một món quà để tỏ sự biết ơn.
Những hoạt động chính của Lễ hội là gia đình tụ họp, trang hoàng nhà cửa sạch đẹp. Nhiều loại đèn chiếu sáng được trang trí trước nhà. Đến dịp Lễ, người ta diện quần áo mới đẹp, đi đến đền để cúng thần, dâng lên những lời cầu nguyện, sau đó họ về nhà vui vầy những bữa tiệc thịnh soạn, chia nhau những thức ăn ngọt, thăm viếng và chúc phúc với láng giềng. Nhiều lúc, người dân đổ ra đường nhảy múa theo tiếng trống ầm ĩ. Ở điểm này, tôi thấy không có dân tộc nào thích nhảy múa bằng dân tộc Ấn.
Điểm nổi bật nhất của Lễ hội chính là đốt pháo. Trong suốt những ngày Lễ hội, đi đâu cũng nghe tiếng pháo. Tại các tiệm pháo người ta bày bán đủ loại pháo, có những loại pháo có âm thanh lớn như tiếng mìn nổ. Các trẻ em bận rộn suốt ngày với việc đốt pháo.






Một số loại pháo tại Ấn

Diwali cũng là dịp để những nhà giàu phô trương của cải của mình bằng việc tổ chức tiệc linh đình và đốt liên tục những loại pháo hoa đắt tiền, với nét mặt tươi cười mãn nguyện. Gần đấy, những đứa trẻ con nhà nghèo lăng xăng nhặt nhạnh những hộp đựng pháo và xác pháo rơi tơi tả để ngày mai đem đổi lấy vài cái chapati mong sống cho hết một kiếp hoang vu trên mặt đất. Thân thể gầy gò, đen đúa, đôi mắt ngưỡng mộ cộng với sự sợ sệt của chúng trước âm thanh ầm ầm của tiếng pháo, trước sự tự tin, hãnh diện của những đứa con xinh xắn trắng trẻo của những gã nhà giàu phì nộn đang loay hoay đốt pháo tạo nên một bức tranh tương phản và một câu hỏi muôn đời của dân tộc Ấn. Câu hỏi ấy đã được trả lời cách đây hơn 2,500 năm bởi một Người Ấn Độ phi thường, Đức Phật Thích Ca. Ngài đã xoá bỏ mọi giai cấp bằng việc tuyên bố: “không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn.” Cánh cửa Chánh Pháp của Ngài mở toang cho những ai muốn vào, không phân biệt vua chúa hay tiện nhân. Ngài xác nhận khả tính chứng ngộ của mọi người là như nhau và con người trở nên cao sang hay hèn tiện chính là do hành động tạo tác (karma) của mọi người. Sức ảnh hưởng của những Lời dạy minh triết đã cải cách xã hội một cách triệt để khi mà nơi nào có dấu chân Ngài, nơi đó không thấy có sự phân biệt giai cấp và một vị Tỳ-kheo thuộc giai cấp thấp cũng được quốc vương quỳ lạy để dâng thực phẩm cúng dường. Tiếc rằng, sức ảnh hưởng của những Lời dạy ấy chỉ vang vọng ở xã hội Ấn hơn 1,500 năm rồi suy tàn, để rồi ngày nay thừa hưởng Gia tài quý giá ấy chỉ còn là cộng đồng thiểu số ngưới Ấn [5].
Nhìn chung, Diwali là một truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Ấn. Nó thể hiện sự tôn kính thiêng liêng dâng lên Thánh Thần, sự đánh thức những giá trị đạo đức tiềm ẩn của con người, sự cảm thông thương yêu của con người, sự khát khao được thịnh vượng và hạnh phúc của họ. 
Những ngày đó, đêm nằm nghe tiếng pháo nổ râm ran, gợi lên cảm giác như không khí Tết tại quê nhà của người xa xứ cầu học như tôi. Thủa thiếu thời, mỗi lần Tết đến, tôi không sao ngủ được, ngồi dậy cùng Mẹ đẩy những que củi vào bếp lửa hừng cháy đang nấu nồi bánh chưng, bánh tét. Nhà trên, mùi hương trầm tỏa nghi ngút từ bàn thờ Phật và Gia tiên đã bày biện hoa quả và dưa hấu trang nghiêm. Đêm ấy, cứ trông mau đến sáng để được mặc quần áo mới, đi đánh bầu cua và đốt pháo cùng chúng bạn…
             ..…..  Nghe tiếng pháo nổ râm ran càng nhớ. Nhớ lắm. Nhớ cồn cào!



[1]  Theo số liệu mới nhất của Cục Kiểm Kê Dân Số Ấn Độ, đạo Hindu chiếm 80.5 % dân số Ấn, tức 827,578,868 người.
[2] Tên một vương quốc cổ tại bang Bihar. Ayodha cũng được xem là Thánh địa của người Hindu.
[3] Rāmāyaṇa và  Mahābhārata là hai cuốn sử thi bằng tiếng Sanskrit của đạo Hindu, hình thành từ tk thứ 4 TCN đến tk 4 SCN. Từ hai cuốn sử thi này có thể biết nhiều thông tin về lịch sử và văn hoá Ấn Độ.
[4] vị Guru thứ 6 trong 10 vị Guru của đạo Sikh, trở thành Guru vào ngày 25-05-1606.
[5] Theo số liệu mới nhất của Cục Kiểm Kê Dân Số Ấn Độ, đạo Phật chiếm 0.8 % dân số Ấn, tức 7,955,207 người.



Xua tan bóng tối



Xua đuổi sự u tối và không may mắn

Diwali 2007 tại Delhi

Diwali tổ chức cho Sinh viên quốc tế tại nhà riêng của Hiệu phó ĐH Mumbai





Các tiết mục tại buổi lễ

Sinh viên quốc tế dự lễ

Bắn pháo hoa tại Mumbai

-->Đọc thêm...

October 8, 2010

Phóng sự Hội Thảo Bán Niên Quốc Tế về Thiền tại Somaiya




Vào thượng tuần tháng 9 DL, sau khi những cơn mưa xối xả, trắng trời Mumbai đã đi qua, nhường lại cho cho sự bừng dậy của vạn vật, cây cối trong cái nắng mới của tiết trời chớm thu, cũng là lúc thích hợp để các nhà nghiên cứu, hành giả Phật giáo khắp nơi trên thế giới đổ về “Thủ đô thương mại” của Ấn Độ để tham dự hội thảo.
Hội thảo Bán Niên Quốc Tế lần thứ 6 về chủ đề “Thiền Phật giáo:kinh văn, truyền thống và thực tập” đã được đăng cai tổ chức bởi Hội đồng điều hành Viện nghiên cứu Phật học Somaiya, thuộc ĐH Mumbai. Các đơn vị liên kết đồng tổ chức gồm: Uỷ ban giao lưu văn hoá Ấn độ (ICCR, thuộc chính phủ Ấn độ), Tân Đại học Nalanda, Đại học Phật giáo Việt Nam, khoa Triết và Pali (ĐH Mumbai).
Hội thảo 3 ngày (từ ngày 3 đến ngày 5/9) đã long trọng chính thức khai mạc vào lúc 9:30 ngày 3/9/2010 tại Viện Nghiên Cứu Phật học Somaiya, khuôn viên Somaiya Campus của ĐH Mumbai với sự tham dự của hàng trăm Tăng Ni, giáo sư, học giả, nghiên cứu sinh, sinh viên, và nhân sĩ  trí thức tại Ấn Độ và khắp nơi trên thế giới.
Chủ tọa đoàn và Thượng khách 

Đoàn Việt Nam do gồm 5 đại biểu do Đại đức Tiến sĩ Thích Nhật Từ hướng dẫn, HT Thích Gíac Toàn làm trưởng đoàn.
Buổi khai mạc đã được mở đầu bởi nghi thức tụng kinh cầu nguyện bằng tiếng Pali và Sankrit.Tiếp theo là nghi thức Thắp Nến và lời chào mừng các vị đại biểu và toàn thể hội chúng của ban tổ chức. Buổi lễ được tiếp nối bằng lời phát biểu khai mạc của các vị thượng khách và ban tổ chức. Lễ khai mạc đặc biệt ấn tượng bởi sự hiện diện và phát biểu của thống đốc bang Bihar, ông H.E.D. Konwar. Ngoài việc khen ngợi, chúc mừng và cầu chúc cho Hội thảo thành công tốt đẹp, ông còn nhấn mạnh về bang sở tại của minh: “Bihar là bang nghèo nhất của Ấn độ, nhưng là bang đóng góp nhiều nhất về tâm linh cho Ấn độ và cả thế giới bởi sự xuất hiện và truyền bá Chánh Pháp của đức Phật Tổ Gotama”.

Thắp Nến cầu nguyện



Thống đốc bang Bihar H.E.D Konwar phát biểu

Buổi chiều, Hội thảo đã tiến hành bằng session thứ nhất, Ấn Độ. Tiếp theo là session Sri lanka và Thái Lan. Buổi tối, lúc 6:30 p.m-7:30 p.m, màn trình diễn văn hoá Ấn Độ,  do Ban Văn Hoá thuộc chính phủ Maharastra đảm trách, diễn ra thật hoành tráng và mang đậm bản sắc.
Ngày thứ 2, hội thảo tiến hành bằng các Session: Cam-pu-chia và Lào, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc.
Ngày cuối cùng ( 5/9) của hội thảo đã mở đầu bằng việc tập trung thảo luận đề tài “Thiền Đại thừa với tiêu điểm Đạo Nguyên (Dogen)”, tiếp theo là các session Tây Tạng, Việt Nam, Miến Điện.
Đoàn Việt Nam đã đóng góp 5 bài tham luận tập trung về lợi ích của thiền đối với cuộc sống hiện tại. Không có bài tham luận về 2 dòng thiền lớn, tiêu biểu và đang thịnh hành tại Việt Nam và trên thế giới. Đó là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử do Trần Nhân Tôngg (1279-1293) thành lập bằng việc thống nhất 3  thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường; và dòng thiền Làng Mai do Thiền sư Nhất Hạnh lãnh đạo, vốn được tiếp lửa từ tổ Khương Tăng Hội (mẹ Ngài người Việt, sống vào khoảng thế kỷ thứ 3 sau CN). Hai dòng thiền này mang đậm bản sắc dân tộc Việt.
Hội thảo đã kết thúc cùng ngày và sau đó đã khởi hành đi tham quan 4 hang động Phật giáo tại Pune: Bhedsa, Karla, Bahaje, Kondane và thực tập thiền.
Điểm nổi bật của Hội thảo
- Hội thảo đã thu hút sự tham dự của hàng trăm giáo sư hàng đầu tai Ấn độ và thế giới. Nhiều giáo sư, học giả nổi tiếng tuy không có bài tham luận nhưng đã đến để chủ toạ, điều hợp, yểm trợ các buổi hội thảo.
- Dù ít hay nhiều, các truyền thống thiền Phật giáo, và phương pháp thực hành đã được trình bày.
- Thiền Vipassana được thảo luận nhiều hơn thiền Đại thừa. Điều này phản ánh thực tế sự kế tục và sức phổ biến của các hệ thống thiền trong xã hội hiện tại.
- Việc tổ chức đã thành công mỹ mãn như mong đợi từ khâu tiếp tân đến âm thanh, ánh sáng, chất lượng, v.v.
Hội thảo kết thúc trong không khí thiền vị, mang tính nhất trí và học thuật, như lời phát biểu cùa Viện trưởng K. Sankarnayan: “một người không thể tạo nên học thuật, nghiên cứu. Bằng cách đóng góp, liên kết, giao lưu chúng ta sẽ tạo nên môi trường học thuật, nghiên cứu thành công như hội thảo lần này.”
Riêng tôi, vừa hoan hỷ vì sự thành công tốt đẹp của hội thảo, lại vừa trăn trở vì những dòng thiền lớn tại Trung Quốc không được nhắc đến, đặc biệt là Tổ Bodhidharma (Bồ-đề-đạt-ma). Phật giáo đại thừa xuất phát từ Ấn độ nhưng phát triển rực rỡ trên mảnh đất Trung Hoa, với sự ra đời của Thập đại tông phái. Trong đó, thiền buổi đầu đã được dần dần mang vào bởi các đoàn truyền giáo nhưng thực sự định hình và nổi bậc bởi sự xuất hiện của Tổ Bodhidharma đầu thế kỷ thứ 6. Đến thời Đường, với sự xuất hiện của Lục tổ Huệ Năng và sau đó là sự ra đời của Ngũ Gia Thiền Phái, đã ngự trị đời sống tâm linh của người Trung thổ. Tiếc thay, Phật giáo đã suy vi vào cuối đời Thanh, và mặc dù có cuộc chấn hưng vào các thập niên đầu của thế kỷ 20, nhưng vì ngoại duyên tác động và sự khan hiếm anh hào Phật giáo nên không phục hồi nổi và các Thiền phái cũng chịu chung số phận. Chính vì Tổ sư thiền suy tàn ngay trên mảnh đất của nó nên các nước trong hệ truyền thừa cũng không vực dậy nổi, do vậy việc tiếp nối của tông phái này thật khiêm tốn. Đó cũng là lý do thiền Bodhidharma với chủ trương siêu phóng “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyên, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” hầu như không được nhắc đến trong hội thảo lần này. Tiếc thay!

Minh Toàn thực hiện



Nghiên cứu sinh ĐH Mumbai tham dự


Toàn thể Đại biểu

HT Gíac Toàn tặng quà cho Thống đốc bang Bihar

GS P.L Dhar chủ tọa

Ven Che Kinda thảo luận

GS. Somparn Promta hùng biện

GS. Anita Sharma, GS Akira Saito và học giả thông bác mọi truyền thống PG, GS. Charles Willemen chủ tọa

giờ ăn trưa

PGS A.K. Rana tại Hội thảo

GS. Kiyozumi Ishii, Hiệu trưởng ĐH Komazawa-Nhật chủ tọa

Tác giả khơi gợi tổ Bodhidharma tại Hội thảo

Dr. Ravindra Panth, Hiệu trưởng ĐH Tân Nalanda thảo luận

Đoàn ĐH  PGVN tại Hội thảo

PGS, hiện giảng dạy tại khoa Châu Á và Tỷ giảo Tôn giáo, Luther College, Mỹ thảo luận

Most Ven. Ashin Nanissara, Viện trưởng Học viện Phật giáo quốc tế Sitagu, Myamar và  GS. Niên trưởng M.V. Talim ra măt sách mới "Philisophy of Aesthetics"

Trình diễn văn hóa

Viện trưởng GS.  K.Sankarnarayan tổng kết và cảm tạ

Bế mạc, chụp hình lưu niệm

-->Đọc thêm...

October 6, 2010

Bài học Nghìn Năm Thăng Long từ tinh thần Phật giáo-Kỳ II

Hoàng Thành Thăng Long


4.                      Tinh thần Vô Trụ.
Vô Trụ nghĩa là không trụ chấp vào các pháp hữu vi. Đó là tinh thần “xuất trần thượng sĩ”, là triết học hành động của các Thiền sư: làm thì làm nhưng không mắc kẹt vào công việc, không nương tựa vào pháp hữu vi. Vô Trụ còn là tiêu biểu cho thái độ không màng quyền lực, danh vọng, phú quý của các vị vua thời Lý-Trần.
Dưới triều vua Lê Đại Hành, Thiền sư Vạn Hạnh đã đóng một vai trò quan trọng cố vấn cho vua việc đại sự quốc gia. Khi quân Tống sang xâm lăng nước ta năm 980, Vua Lê Đại Hành hỏi Thiền sư nếu đánh thì thắng hay bại, Thiền sư trả lời là nội trong ba, bảy ngày thì giặc phải thua chạy. Rồi năm 982, khi quân Chiêm Thành bắt hai sứ giả của ta, Thiền sư đã khuyên Vua cấp tốc xuất quân Nam chinh thì sẽ đại thắng. Quả nhiên, đối với hai vấn đề trọng đại sinh tử nầy là đương đầu với đế quốc phương Bắc và đánh dẹp phương Nam vào thời ấy đều đúng như lời Thiền sư tiên đoán.
Thiền sư Vạn Hạnh chính là linh hồn của cuộc cách mạng bất bạo động năm 1009. Ngài đã âm thầm, kiên trì chuẩn bị cuộc cách mạng này từ lâu, từ lúc thấy Lê Long Đĩnh bạo tàn, hoang dâm vô độ và từ lúc phát hiện Lý Công Uẩn sẽ là bậc minh quân nên đã ra sức giáo dưỡng, un đúc, rồi vận động và thực hiện kế hoạch siêu việt. Khi thời cơ chín mùi, Ngài đã liên kết cùng Đào Cam Mộc, đưa Lý Công Uẩn lên ngôi. Ngày Lý Công Uẩn lên ngôi thì Thiền sư đang uống trà ở chùa Lục Tổ một cách thong dong. Việc “Thiền sư đã làm là  vì dân tộc, vì muốn chuyển hóa xã  hội bạo trị thành một xã hội đức  trị, biến một quốc gia Việt Nam mong manh,  suy vi thành một quốc gia Việt Nam hùng cường,  hưng thịnh. Thiền sư đã ra tay hành  động, vừa là để tránh cho dân  tộc khỏi rơi vào vực thẳm, khỏi  trầm luân trong đầm lầy và vừa  để xây dựng trên đống tro tàn,  gạch vụn đổ nát của thời Bắc Thuộc và thời chiến tranh, loạn lạc,  độc tài, bạo trị, một lâu đài  Việt Nam nguy nga, tráng lệ, một sự nghiệp  Việt Nam trường tồn bất tử ngàn  năm.” (Lý Khôi Việt, Thiền sư Vạnh Vạnh và sự nghiệp Việt Nam).
Tượng  Thiền Sư Vạn Hạnh

Ngoài cuộc cách mạng năm 1009, Thiền sư Vạn Hạnh còn là người đóng vai trò quan trọng trong việc dời đô từ Hoa Lư, kiến thiết thành Thăng Long…Tất cả những việc này Thiền sư đều làm với tâm vô kỷ, vô công, vô danh, vô hành. Sau này mỗi khi có việc trọng đại, vua mời Thiền sư vào cung cố vấn. Xong việc, Thiền sư lại rút lui về chùa.
Các vị Thiền sư Pháp Thuận, Khuông Việt, Vạn Hạnh, Huệ Sinh, Viên Chiếu, Mãn Giác, Chân Không, Giác Hải và Không Lộ… đều giữ thái độ xuất thế, không mảy may dính vào mùi danh, bả lợi. Các Ngài mang hạnh nguyện độ sanh đến cho đời, làm tất cả vì cuộc đời, rồi xuất thế một cách thong dong như cánh nhạn bay qua nền trời, không để dấu lại mặt hồ và mặt hồ cũng không lưu dấu được bóng nhạn, tất cả đều thanh thoát, tự tại, siêu việt:
Nhạn quá Trường không
Ảnh trầm hàn thuỷ
Nhạn vô di tích chi ý
Thuỷ vô lưu ảnh chi tâm
(Hương Hải Thiền sư)
Ảnh hưởng từ phong thái tự tại của các Thiền sư cũng như thấm nhuần từ giáo lý đạo Thiền, các vị vua thời Lý-Trần đã thể hiện nếp sống “cư trần bất nhiễm trần”. Dù sống trong cung điện xa hoa phú quý nhưng các vị không hề đắm nhiễm. Các vị vua đời Lý đều thực tập đạo Thiền và thường xuyên mời các vị Thiền sư vào cung giảng đạo.
Có những vị tuy sống giữa nhung lụa nhưng vẫn có phong thái của Thiền sư. Sử chép, vua Trần Thái Tông thắp đèn thâu đêm để đọc sách đạo Thiền; vua còn chế tác “Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi” để ngày đêm sáu thời lễ lạy. Lúc còn nhỏ, vua đã trốn vào núi để xuất gia, nhưng sau do sự khuyên can của Thiền sư Viên Chứng và quần thần nên đành miễn cưỡng trở lại ngai vàng. Dù ở chốn cung đình nhưng vua vẫn giữ phong thái thoát tục như các vị Thiền sư ẩn tu ở chốn sơn lâm:
 Mình ngồi thành thị
   Nếp dụng sơn lâm” (Cư trần lạc đạo phú-hội thứ hai)
Sau khi lãnh đạo chống quân Nguyên-Mông lần thứ nhất thành công và đóng góp to lớn cho triều chính, vua truyền ngôi lại cho con là Trần Thánh Tông (1258-1278), rồi ngày đêm chăm lo đạo Thiền, viết Thiền Tông Chỉ Nam để truyền những sở đắc cho hậu thế.
Vua Trần Nhân Tông (1279-1293), sau khi cùng quân dân đánh tan cuộc xâm lược lần thứ hai và ba, góp phần giữ vững triều cương và đất nước, cũng đã truyền ngôi cho con, vào chốn thâm sơn Yên Tử để vui thú đạo mầu và lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Có thể nói các vị vua Lý-Trần coi quyền lực, phú quý như áng mây bay, buông bỏ chúng như “đôi giày rách”. Các vị chỉ làm vua như một trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Xong việc, thì thong dong, tự tại, siêu việt mọi danh lợi thường tình.
5.                      Tinh thần Bất Nhị
Tinh thần Bất Nhị là giáo lý siêu việt của nhà Phật. Nó đặt cơ sở trên cái nhìn vô phân biệt về cuộc đời, thành-hoại, sanh-tử, phàm-thánh không một, cũng không khác. Đó là sự quán chiếu cuộc đời “sắc tức là không, không tức là sắc”.
Tinh thần Bất Nhị được ứng dụng mạnh vào thời Trần chính là nhờ những tư tưởng chủ đạo thời bấy giờ làm cơ sở. Đó là tư tưởng “Phật tại tâm”, “biện tâm” và “cư trần lạc đạo”.
Quốc sư Viên Chứng thức tỉnh vua Trần Thái Tông rằng: “Trong núi vốn không có Phật. Phật chỉ có ở trong tâm. Tâm lặng mà biết thì đó đích thị là Phật”.  Thái Tông nhấn mạnh tư tưởng “Biện tâm”, nghĩa là không kể là sống ẩn trên núi hay là giữa thị thành, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biện tâm, vốn không có phân biệt nam nữ, sao lại còn chấp tướng: “mặc vấn đại ẩn, tiểu ẩn, hữu biệt tại gia xuất gia, bất câu tăng tục, chỉ yếu biện tâm, bổn vô nam nữ hà tu trước tướng?” Trần Nhân Tông cũng chỉ ra Bụt chính là ở cõi lòng:
Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa
Nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt
Đến cốc hay Bụt chỉn là ta
”.
Và vì vậy thôi nhọc công đi đìm, hãy sống tuỳ duyên, an lạc:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
 Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền
”.
                                                  (Cư trần lạc đạo phú)

Tuệ Trung Thượng Sỹ một Thiền sư có tư tưởng siêu phóng đời Trần, một Bồ tát tại gia và là thầy dạy của Trần Nhân Tông cũng nói tư tưởng này trong các bài ”phàm thánh bất dị” và ”mê ngộ bất dị”:
Mày ngang mũi dọc cũng như nhau
Phật với chúng sinh không khác mặt
”.                     
Mỗi người là một vị Phật sống: “hoạt Phật”. Vì vậy, mỗi người không kể là tăng hay tục, là nam hay nữ đều phải lo “biện tâm”, tức gột rửa, cứu xét, tu tập tâm tính, cố gắng phấn đấu để xứng đáng với danh hiệu đó. Chính tư tưởng chúng ta cùng chư Phật, không một, cũng không khác như thế đã tạo nên thái độ tích cực cho mỗi người tự nỗ lực, phấn đấu, tu tập để hiển lộ ông Phật ngay trong chính mình. Và do vậy, nó tạo nên hệ quả tốt đẹp là ai cũng sống an lạc, tự tại, xa lìa mọi phiền não, khổ đau cuộc đời.
Mặt khác, tinh thần Bất Nhị cũng tạo nên hệ quả dấn thân, nhập thế tích cực của Phật giáo. Vì sống với tinh thần Bất Nhị của đạo Thiền nên không còn chấp vào hình thức xuất hay nhập, hữu vi hay vô vi, tăng hay tục mà cốt ở tinh thần thực hiện. Vì thấm nhuần tư tưởng này nên vua Trần Thái Tông đã ở lại ngôi để lo cho dân, cho nước mà vẫn giữ phong thái tự tại; rồi một Tuệ Trung sống giữa gia đình mà trí tuệ siêu phóng, tinh thần ung dung; và, toàn dân thực tập tinh thần Phật giáo, ra sức cống hiến cho quốc gia, tạo nên sức mạnh tổng hợp thần kỳ, đánh tan 3 cuộc xâm lược của quân Nguyên-Mông hung hãn.
Tóm Lại, lịch sử 1000 năm Thăng Long không chỉ nổi bật bởi những kỳ tích oai hùng bình Tống, thắng Nguyên, dẹp Minh, đuổi Thanh, xua Pháp, gắn liền những chiến công hiển hách: Bạch Đằng, Đông Bộ Đầu, Chương Dương Độ, Hàm Tử Quan, Chi Lăng, Ngọc Hồi, Điện Biên Phủ mà nó còn thể hiện giá trị truyền thống, văn hiến tốt đẹp được thể hiện rõ nét trong thời Lý-Trần.
Bằng đường lối dung hợp giá trị tinh thần cao quý của Phật giáo với văn hoá bản sắc dân tộc, các vị vua đã tạo nên nét đặc thù cho văn hiến và lịch sử Việt Nam. Tinh thần từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, vô trụ, bất nhị…đã không làm cho dân tộc yếu mềm mà trái lại tạo nên sức mạnh nội tại đánh tan những thế lực bành trướng, xây dựng một quốc gia thuần từ, an lạc, minh triết. Một quốc gia mà có những ông vua thực hiện đời sống thanh cao, có tấm lòng thương dân như con đẻ, biết trọng dụng người hiền tài, đức độ, biết xây dựng xã hội trên tinh thần Ngũ Giới thì xã hội được an bình, quốc gia được phú cường, thịnh trị là một hệ quả tất yếu:
Vận nước như dây quấn
Trời Nam ôm thái bình
Ðạo đức ngự cung điện
Muôn xứ hết đao binh.
(Thiền sư Pháp Thuận)
Xã hội hiện tại với trình độ văn minh khoa học phát triển như vũ bão, nhưng không làm cho đạo đức con người đi lên mà còn xuống cấp trầm trọng. Sự khủng hoảng đạo đức và những thách thức xã hội đang đặt ra cho con người nhu cầu cần một chỗ dựa căn bản đạo đức, một phương thức sống ý nghĩa dựa trên nền tảng giá trị tâm linh tốt đẹp. Vì vậy, việc quay lại “ôn cố” những bài học lịch sử tốt đẹp, những gia tài tâm linh của Tổ tiên để trân quý, giữ gìn, phát huy,  để “tri tân” tức vận dụng trong cuộc sống hiện tại, xem ra, là một trong những giải pháp vậy.
Rồng thời Lý

Thư mục tham khảo
Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Thái Tông, Nxb Tp.HCM, 2004.
Lý Khôi Việt, Thiền sư Vạn Hạnh và sự nghiệp Việt Nam, saigontimesusa.com.
Nguyễn Lang-Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2000.
Nguyễn Lang, Tổng quan về Phật giáo đời nhà Lý, phusa.info.
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KHXH, Hà Nội, 1985.
Viện văn học, Thơ văn Lý-Trần, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989.
Thích Chúc Minh, Tư tưởng Phật tại tâm của vua Trần Thái Tông (luận văn).












-->Đọc thêm...